Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

22 thg 9, 2011

Chuẩn bị có cách chữa trị HIV

Reuters đưa tin, các nhà khoa học Mỹ và Châu Âu đã tìm ra cách ngăn chặn vi-rút HIV làm tổn hại đến hệ miễn dịch. Khám phá này có thể đưa ra phương pháp tiếp cận mới trong việc phát triển vắc-xin phòng chống AIDS.
Điểm mấu chốt nằm ở chỗ, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, virus không thể phá hủy hệ thống miễn dịch nếu màng tế bào của nó bị lấy mất cholesterol.
Theo ông Adriano Boasso, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Imperial (London), việc lấy cholesterol ra khỏi màng tế bào vi-rút cũng giống như tước vũ khí của đội quân này nhưng để lại cờ, đội quân khác sẽ vẫn nhận ra và tiêu diệt chúng.

Dựa trên kết quả đã tìm được, hiện nhóm nghiên cứu đang lên kế hoạch điều tra làm thế nào làm suy yếu vi-rút và phát triển nó thành một vắc-xin.

Thông thường khi một người bị nhiễm HIV, đáp ứng miễn dịch bẩm sinh của cơ thể đặt “chế độ bảo vệ” ngay lập tức. Tuy nhiên, một số nhà khoa học tin rằng, chính vi-rút HIV khiến hệ miễn dịch bẩm sinh phản ứng thái quá, hệ quả là làm suy yếu dòng phản ứng tiếp theo của hệ miễn dịch, được biết đến như là các phản ứng miễn dịch thích ứng.

Lấy cholesterol ra khỏi màng virus HIV sẽ khiến nó mất khả năng kích hoạt phản ứng miễn dịch bẩm sinh của cơ thể, sau đó dẫn tới một phản ứng thích ứng mạnh mẽ hơn, được sắp xếp bởi một loại tế bào miễn dịch gọi là tế bào T. Tế bào T sẽ tiêu diệt vi-rút hiệu quả.

Boasso ví von: “HIV là một kẻ thù lén lút. Nó trốn tránh hệ thống bảo vệ của chủ thể bằng cách thổi phồng các phản ứng thái quá, phá hủy hệ thống miễn dịch. Giống như chạy xe ở số 1 quá lâu làm động cơ hỏng máy. Vi-rút tác động vào cơ chế khác làm suy yếu phản ứng thích nghi - đây là lý do khiến việc phát triển vắc-xin trước giờ rất khó khăn”.
AIDS giết chết khoảng 1,8 triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Ước tính khoảng 2,6 triệu người mắc HIV trong năm 2009, và 33,3 triệu người đang sống chung với vi-rút.
Khoa học đã cố gắng trong nhiều năm để tạo ra vắc-xin chống lại HIV, nhưng cho đến nay chỉ thành công hạn chế. 
Năm 2009 tại Thái Lan, một nghiên cứu trên 16.000 tình nguyện viên cho thấy lần đầu tiên một loại vắc-xin có thể ngăn chặn lây nhiễm HIV ở số ít người, tuy nhiên hiệu quả chỉ khoảng 30%.

24 thg 8, 2011

bệnh nhân AIDS đầu tiên được chữa khỏi


Ngày 3-6 vừa qua, lần đầu tiên, bệnh nhân AIDS đầu tiên trên thế giới được chữa khỏi đã xuất hiện trước công chúng sau gần nửa năm ẩn mình.
Tháng 12-2010, báo chí thế giới đã đưa tin: Tiến sỹ Gero Huetter trường đại học Y khoa Charite ở Berlin đã chữa khỏi bệnh AIDS cho một bệnh nhân 40 tuổi người Mỹ bằng phương pháp ghép tủy sống. Nhưng tên tuổi và hình ảnh của bệnh nhân vẫn bị giấu kín khiến có người vẫn hoài nghi. Nhưng nay thì mọi việc đã được sáng tỏ, con người may mắn ấy đã được xuất hiện…
Đối với các thầy thuốc trên thế giới, trường hợp bệnh nhân AIDS người Mỹ Timothy West Brown giống như luồng ánh sáng ở con đường hầm tối tăm tìm cách chữa căn bệnh thế kỷ này. Người đàn ông khốn khổ này đồng thời bị mắc cả bệnh AIDS lẫn ung thư máu.
Timothy West Brown, bệnh nhân AIDS đầu tiên trên thế giới được chữa khỏi
Timothy West Brown, bệnh nhân AIDS đầu tiên trên thế giới được chữa khỏi.
Trong con mắt giới y học, Brown là người đang “chầm chậm xuống mồ”. Thế nhưng kỳ tích đã xảy ra: Sau khi được ghép tủy, Timothy West Brown đã cải tử hoàn sinh, cả hai căn bệnh đều khỏi. Sự kiện này đã gây chấn động không những giới y học mà cả thế giới bởi qua trường hợp của Timothy West Brown, người ta đã thấy được kỳ tích của giới y học: Có thể kết liễu căn bệnh thế kỷ AIDS!
Đã 30 năm kể từ khi con người phát hiện ra sự tồn tại của virus HIV (5-6-1981). Đúng dịp kỷ niệm này, các nhà y học đã gióng lên hiệu kèn báo hiệu sẽ tập trung toàn lực để loại bỏ thứ virus đáng sợ này khỏi thế giới. Niềm tin này dựa trên hai nhân tố: sự tiến bộ của khoa học và áp lực của tiền bạc.
Chỉ tính riêng trong các nước đang phát triển, mỗi năm số tiền chi cho điều trị bệnh nhân AIDS đã lên tới 1,3 tỷ USD. Cứ như hiện nay thì đến năm 2031, con số này sẽ gấp 3 lần. Việc chữa chạy cho các bệnh nhân AIDS tốn kém ghê gớm, cần phải tìm ra cách để chữa khỏi căn bệnh này.
Timothy West Brown là người vừa bị AIDS vừa bị bệnh máu trắng. Năm 2007, ông tới Berlin tìm gặp bác sỹ Gero Huetter ở trường Đại học y Khoa Charite - chuyên gia về ung bướu và bệnh đường máu. Ông Gero Huetter nhớ lại: Khi đó tình trạng của Timothy West Brown rất xấu, đang cận kề cái chết.
Ông Gero Huetter lập tức đưa ra quyết định: Tiến hành ghép tủy để trị bệnh máu trắng trước. Kết quả nằm ngoài dự đoán: Sau 3 năm quan sát lâm sàng, công việc ghép tủy đó không những chữa được bệnh máu trắng mà còn chữa khỏi luôn bệnh AIDS.
Thì ra, tủy sống của người hiến rất hợp với Timothy, đồng thời còn chứa một gene biến dị có thể tiêu diệt được HIV. Theo nghiên cứu trước đây thì loại gene biến dị này chỉ tồn tại trong cơ thể của số ít người Bắc Âu.
Ngày 2-6, ông Gero Huetter đã nói: “ Do Timothy West Brown bị mắc bệnh AIDS nên chúng tôi nghĩ dù có được ghép tủy thì cũng phải rời bỏ thế giới này. Thật không thể ngờ, ông ấy lại sống được một cách kỳ diệu như thế. Hiện nay ông ấy đã không còn HIV trong người nữa, hiện không còn phải uống thuốc nữa”.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học cho rằng không thể áp dụng phương pháp ghép tủy sống để điều trị bệnh AIDS cho các bệnh nhân khác vì chi phí cao, phức tạp, rủi ro cao và cần phải tìm được người hiến tủy đặc biệt: Loại tủy có gene đề kháng được HIV, thứ chỉ có được ở một số người Bắc Âu.
Tiến sỹ Robert Gallo ở ĐH Mariland thẳng thắn bày tỏ ý kiến phản đối: “Phương pháp này không có tính thực tiễn, sẽ làm chết rất nhiều người”.

23 thg 8, 2011

Điều trị bệnh lậu

Kính gửi Bác sĩ! Tôi bị mắc bệnh lậu tính đến nay gần được 1 tháng. Sau 5 ngày bị nhiễm bệnh tôi đã đến ngay BV Da liễu HN để khám. Tôi đã làm xét nghiệm và được bs chuẩn đoán là bị lâu. Sau đó bác sĩ có kê cho tôi đơn thuốc như sau: 1. Cetrax 1g - 2 lọ. Mỗi ngày tiêm mông 1 lọ. 2. Azee 250mg - 3v, mỗi ngày uống 1v, bắt đầu từ ngày thứ 3 (hết 2 ngày tiêm) 3. Billiganin 30v, mỗi ngày 2v, bắt đầu từ ngày thứ 3. Kiêng rượu bia. Tôi đã thực hiện đầy đủ đơn thuốc trên, đến nay còn 1 ngày thuốc nữa (dùng thuốc đã được 16 ngày) nhưng hiện giờ tôi vẫn thấy hiện tượng chất nhầy như nhựa chuối dù rất ít (không khô hẳn như khi chưa mắc bệnh). Nhất là khi hoạt động thể thao thì chất nhầy nhựa chuối ra nhiều. Tôi chưa có vợ và cũng chưa quan hệ tình dục với ai từ khi mắc bệnh. Tôi có uống bia 1 lần duy nhất trong suốt quá trình uống thuốc cách đây 3 ngày. Bác sĩ cho tôi hỏi liệu tôi đã bị lậu mãn tính chưa? và cách khắc phục như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn. (Trần Duy Tám)

Trả lời:


Lậu là một bệnh gặp chủ yếu ở đường sinh dục - tiết niệu, ngoài ra còn gặp lậu ở kết mạc mắt, khớp và hiếm gặp hơn là nhiễm trùng huyết. Bệnh lậu do vi khuẩn lậu (Neisseria gonorrheae) gây ra. Bệnh lậu cho đến nay là một bệnh chiếm tỷ lệ khá cao.

Đây là một bệnh lây truyền chủ yếu theo đường tình dục. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tỷ lệ cao nhất là tuổi đang hoạt động tình dục.

Biểu hiệncủa bệnh:

Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính.



- Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau.



Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấp tính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng.



Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

- Lậu mạn tính:

Ở nam giới biểu hiện tiểu dắt, tiểu buốt, ít khi thấy tiểu mủ. Đa số các trường hợp thấy có chất nhầy như nhựa chuối chảy ra ở niệu đạo vào sáng sớm, lúc ngủ dậy, khi đi tiểu. Nam giới bị lậu nếu không phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ thì dễ chuyển thành mạn tính và khi đã trở thành lậu mạn tính thì rất khó điều trị. Bệnh lậu ở nam giới cũng cần được chẩn đoán phân biệt với các bệnh có triệu chứng giống lậu nhưng gây ra bởi các vi khuẩn khác như chalmydia và mycoplasma.

Ở nữ giới đa số bệnh chuyển sang giai đoạn mạn tính ngay từ đầu, có rất ít triệu chứng ngoài dấu hiệu ra khí hư màu vàng. Bệnh có khi gây viêm cả hậu môn (do mủ kèm theo vi khuẩn lậu chảy vào hậu môn). Điểm quan trọng của lậu mạn tính ở phụ nữ là làm lây bệnh trong cả quá trình dài nhiều tháng, nhiều năm trong thời kỳ hoạt động tình dục đặc biệt là gái mại dâm.



Để chẩn đoán xác định lậu mạn tính ở nữ giới (kể cả ở nam giới) cần làm xét nghiệm tìm vi khuẩn nhiều lần, nhiều loại bệnh phẩm khác nhau và nhiều phương pháp khác nhau. Bệnh lậu mạn tính ở nữ cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh cũng gây viêm âm hộ, âm đạo do vi khuẩn chlamydia trachomatis, mycoplasma, trùng roi, nấm candida albicans, tạp khuẩn để điều trị có hiệu quả.

Con đường lây lan của bệnh:

Bệnh lậu chủ yếu lây qua đường tình dục. Ngoài ra có thể thấy lây qua việc dùng chung khăn tắm, quần áo lót có dính mủ niệu đạo, âm đạo của người bị lậu nhưng tỷ lệ mắc bệnh theo hình thức lây lan này rất thấp.

Bên cạnh bệnh lậu gặp ở đường sinh dục-tiết niệu còn có thể gặp bệnh lậu do viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh. Trường hợp này là do người mẹ mắc bệnh lậu, khi đứa trẻ sinh đi qua cổ tử cung, âm đạo mà bị lây bệnh. Biểu hiện là trẻ lọt lòng mắt nhắm nghiền, kết mạc sưng to, chảy mủ vàng. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời đứa trẻ có thể bị mù.

Một số trường hợp bị lậu mà không phát hiện và điều trị sớm có thể gây nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn lậu, viêm khớp do lậu, tuy nhiên các tỷ lệ này thấp.

Biến chứng

Hậu quả của bệnh lậu có rất nhiều vấn đề cần lưu tâm:

- Đối với nam giới gây chít hẹp niệu đạo là biến chứng thường hay gặp nhất và cũng là vấn đề làm cho bệnh nhân mắc lậu mạn tính buồn phiền nhất do gây tiểu khó, bí tiểu rất khó chịu và đến lúc không thể chịu được. Nhiều trường hợp chít hẹp niệu đạo phải thông tiểu nhiều lần đưa đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị.

- Đối với nữ giới: Gây viêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ. Đang tuổi sinh đẻ nếu có thai thì rất dễ lây cho con sau khi sinh đặc biệt là gây viêm kết mạc mắt có thể dẫn đến mù lòa. Cũng cần lưu ý rằng mắc lậu mạn tính rất dễ gây vô sinh do lây nhiễm gây viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đó (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào.Ngoài ra có thể gây viêm bàng quang biểu hiện tiểu dắt, buốt.

Phòng ngừa

- Tuyên truyền giáo dục để người dân biết tác hại của bệnh lậu đặc biệt là gái mại dâm, người đồng tính luyến ái.

- Không quan hệ tình dục bừa bãi, thủy chung một vợ một chồng.

- Không dùng chung quần áo, khăn tắm với người mắc bệnh lậu.

- Những người bị bệnh lậu cần được khám và điều trị dứt điểm. Cần điều trị cho cả cặp vợ chồng hoặc cho từng cặp tình nhân.

Bệnh lậu ở nam giới, thường sau thời gian ủ bệnh sau khi bị lây nhiễm 3-5 ngày, có những triệu chứng cấp tính như tiểu đau buốt, ra mủ vàng đặc ở niệu đạo, có thể sốt, nổi hạch bẹn…Nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng, sau 1-2 tháng, bệnh chuyển sang giai đoạn mãn tính với rất ít triệu chứng như tiểu chỉ hơi gắt nhẹ, buổi sáng có ít dịch đục tiết ra niệu đạo, nhưng đây là giai đoạn gây nhiều biến chứng như hẹp niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, viêm ống dẫn tinh, viêm mào tinh hoàn - tinh hoàn, vô sinh… Vì vậy vấn đề quan trọng là chẩn đoán sớm và điều trị đúng phác đồ để điều trị dứt điểm và tránh biến chứng. Chẩn đoán và điều trị bệnh lậu giai đoạn mãn tính khó khăn hơn nhiều.

Trường hợp của bạn đã được chẩn đoán bệnh và có phác đồ điều trị cụ thể, bạn tuân thủ chặt chẽ các chỉ định của bác sĩ để việc điều trị có hiệu quả.
Chúc bạn mau khỏi!

Bệnh thuỷ đậu

- Từ hơn một tháng nay, tại các bệnh viện ở Hà Nội số bệnh nhân thuỷ đậu nhập viện ngày càng tăng nhanh. Bệnh nhân không chỉ là trẻ em mà thậm chí cả người lớn. Các bác sĩ cho biết, bệnh sẽ phát triển mạnh trong thời điểm giao mùa, xuất hiện ở nhiều địa phương và có nguy cơ bùng phát thành dịch. TS đã có cuộc trao đổi với bác sỹ Nguyễn Hồng Hà – Phó Viện trưởng Viện Các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới Quốc gia.
Thưa ông, bệnh thuỷ đậu thường phát triển mạnh vào thời gian nào và những nguyên nhân nào thường dẫn đến mắc bệnh?
Bác sỹ Nguyễn Hồng Hà: Viện Các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới Quốc gia bắt đầu tiếp nhận bệnh nhân thủy đậu từ hơn 1 tháng nay. Hiện nay, bệnh viện đang điều trị cho hơn 20 trường hợp mắc bệnh thuỷ đậu. Bệnh thuỷ đậu thường phát triển mạnh nhất vào dịp cuối xuân, thời tiết giao mùa. Thủy đậu (còn gọi là bỏng rạ, trái rạ) do virus Varicella zoster gây ra. Bệnh chủ yếu lây qua đường hô hấp (nước bọt, dịch tiết khi ho, hắt hơi...) và qua tiếp xúc trực tiếp với dịch từ nốt đậu bị dập vỡ, do đó, khả năng lây truyền bệnh rất nhanh.
Triệu chứng thường gặp là trẻ sốt nhẹ trong 2-3 ngày, sau đó trên da xuất hiện các chấm đỏ, bắt đầu từ đầu, mặt, cổ rồi đến bụng, ngực, chân, gây cảm giác ngứa rát… Trên các chấm này hình thành nốt phồng lớn dần (đường kính 3-4 mm), sau đó khô đi và bong vảy. Nguyên nhân xuất hiện bệnh thuỷ đậu là do cơ thể người bệnh giảm miễn dịch, không đủ kháng thể tự nhiên để bảo vệ trước sự tấn công của virus thuỷ đậu. Tuy nhiên, thời gian gần đây không chỉ trẻ em dưới 10 tuổi mà còn cả người lớn cũng bị mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai bị mắc bệnh thuỷ đậu trong nửa đầu của thai kỳ có thể gây dị dạng ở não bộ, da… của bào thai. Nguy hiểm hơn, nếu người mẹ mắc bệnh thuỷ đậu trong vòng 1 tuần trước và sau khi sinh thì trẻ em sinh ra có nguy cơ tử vong cao.
Cách phòng và chăm sóc bệnh nhân thuỷ đậu như thế nào, thưa ông?
Thủy đậu là bệnh lành tính, nhưng nếu không đảm bảo vệ sinh, nó rất dễ gây biến chứng bội nhiễm, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, viêm gan, viêm phổi… nhưng hiếm gặp. Nếu người bệnh bị dẫn đến các biến chứng trên có nguy cơ tử vong rất cao. Nếu nhiễm trùng, nốt thuỷ đậu sẽ để lại vết sẹo vĩnh viễn trên cơ thể. Vì vậy, để phòng tránh thuỷ đậu cách tốt nhất là tiêm vacxin. Theo thống kê tại các bệnh viện cho thấy cứ 10 trẻ em nhập viện điều trị thuỷ đậu thì có 9 em chưa được tiêm vacxin phòng bệnh.
Người lớn cũng cần phải được tiêm phòng bệnh thuỷ đậu, ngay những người đã tiêm phòng có thể tiêm lại để tăng cường miễn dịch. Vì vậy, trẻ mắc bệnh này cần được cắt móng tay, giữ tay sạch sẽ để tránh gãi xước da và vỡ nốt đậu. Bệnh nhân vẫn cần được tắm nhanh bằng nước ấm, không nên tin theo quan niệm dân gian là kiêng nước kiêng gió một cách triệt để khiến các nốt đậu bị nhiễm trùng.
Bệnh thủy đậu có thể chữa khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng nếu phát hiện kịp thời và chữa trị đúng cách. Đối với bệnh nhân mắc bệnh này thì cần phải được cách ly để điều trị tại các cơ sở y tế. Nhưng do không nhận thức đúng về bệnh thủy đậu, nên hiện nay phần lớn người mắc bệnh đều không đến điều trị tại các cơ sở y tế mà chữa tại nhà bằng phương pháp dân gian, không đảm bảo vệ sinh nên dễ dẫn đến bội nhiễm. Không ít người mặc bệnh sau đó đã để lại di chứng là sẹo thâm trên mặt, ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
Các vết thâm do thủy đậu thường phải sau hàng tháng mới hết hẳn. Các bà mẹ không nhất thiết phải bôi nghệ vì nhựa nghệ thậm chí còn làm vết thâm lâu nhạt màu hơn. Khi có biểu hiện nghi ngờ thủy đậu, cần đưa trẻ đi khám để được chỉ định điều trị đúng. Ngay khi các nốt đậu xuất hiện, cần bôi ngay acyclovir - thuốc kháng virus đặc hiệu với bệnh thủy đậu và herpes. Các tổn thương sẽ nhanh bị khống chế, giảm khả năng nhiễm trùng.
Nếu bệnh nặng, có thể phải dùng acyclovir dạng uống. Với những nốt đậu dập vỡ, bị gãi xước, cần bôi Xanh Methylene, dung dịch có tác dụng diệt khuẩn, làm se các nốt, tránh bội nhiễm.Thủy đậu rất dễ lây và thành dịch. Virus lan truyền từ người bệnh sang người lành chủ yếu qua đường hô hấp. Do đó, trẻ bị thủy đậu cần nghỉ học, cách ly 7-10 ngày. Những người tiếp xúc với bệnh nhân vẫn kịp tránh lây thủy đậu bằng cách tiêm văcxin, vì văcxin có hiệu lực sau 3-5 ngày, trong khi thời gian ủ bệnh là khoảng 2 tuần. Không dùng chế phẩm này cho phụ nữ mang thai, những phụ nữ khác không nên thụ thai trong vòng 3 tháng sau tiêm.

bệnh trĩ

1-Bệnh trĩ là gì?

Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.
Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.
Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.

2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?

Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.
-Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.
-Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
-Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?

Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.

4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:
-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.
-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.
-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.
-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…
-U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

5- Điều trị

Người ta chỉ điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.
- Điều chỉnh thói quen ăn uống:
Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.
Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.
Uống nước đầy đủ.
Ăn nhiều chất xơ.
-Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…
-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

Điều trị nội khoa:

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.
- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.
     - Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.
 
 Điều trị bằng thủ thuật:
 
1-Chích xơ:
      Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ  có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.
Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,
Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:
- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26 và polidocanol.
-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ.  Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là  chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.
-Biến chứng:
*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.
*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…

2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.
 Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.
Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.

3-Quang đông hồng ngoại:
  Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.
Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần.        

PHẪU THUẬT

Với các phát hiện về sinh bệnh học và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm là không đau.
  
Hình 1 : Vị trí phẫu trường của 2 nhóm phẫu thuật

1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật
a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:
Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó  kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.

b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:
Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có  PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).
 Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:
- Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối 
- Cắt trĩ kín:  PT Ferguson.
Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.

2-Nhóm phẫu thuật 2:
Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.

a-PT Longo (1993) (hình 1):
Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.
 
  Hình 1: Phẫu thuật Longo

b-Khâu treo trĩ bằng tay:
Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ  lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.

c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler (hình 2):
Hình 2: Máy Moricorn và ống soi hậu môn có đầu dò siêu âm Doppler

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu  năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.
Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.
Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.
Text Box:  
 
Chỉ định điều trị:
 
-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.
 
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
 
-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.
 
-Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.

-Trĩ nội:
- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.
- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 4: cắt trĩ.
- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.

Lén cho chồng uống thuốc cai rượu: Khác gì đầu độc!

Một số bà vợ vì chán cảnh chồng sáng xỉn chiều say, kêu bỏ nhậu hoài không được, kêu cai càng không xong, bèn nghĩ ra “chiêu độc”: mua thuốc cai rượu về rồi lén hoà vào đồ ăn, thức uống của chồng. Cách này có thể làm các ông chồng bị “tẩu hoả nhập ma”, ngộ độc hoá chất như chơi!

Sợ nhậu vì thuốc cai rượu gây vật vã

Từ lâu, các nhà khoa học đã nỗ lực tìm ra thuốc trị nghiện rượu nhưng vẫn chưa tìm được thuốc nào có tác dụng hoàn hảo. Hiện có thuốc cho là chữa chứng nghiện rượu nhưng thực chất chỉ ngăn chặn sự chuyển hoá và đào thải rượu, làm rượu tích luỹ trong cơ thể dưới dạng độc chất gây phản ứng rất khó chịu, khiến dân nhậu vì quá kinh hãi mà không dám uống rượu nữa. Thuốc đó chính là disulfiram.

Loại thuốc cai rượu thường được nhiều bà vợ chỉ dẫn cho nhau mua về cho ông xã uống có tên Espéral cũng chính là disulfiram (ngoài Espéral, disulfiram còn có tên biệt dược khác là Antabuse).

Đừng dùng cách này vì rất nguy hiểm cho chồng

Espéral tuyệt đối không được dùng cho người bị bệnh về tim mạch, tiểu đường hoặc nhạy cảm với thuốc... Người có tiền sử về tim mạch nếu đã dùng thuốc mà uống nhiều rượu thì có thể bị ngộ độc nặng, rất nhiều khả năng dẫn đến tử vong. Lý do: rượu có chứa cồn etylic, chất này không có giá trị dinh dưỡng và bị cơ thể xem là độc chất. Uống rượu vào, gan phải làm việc cật lực để loại trừ chất này.

Tác dụng của disulfiram là ngăn chặn sự chuyển hoá ấy, chỉ cho nó chuyển thành acetaldehyd rồi thôi. Do acetaldehyd rất độc, nên người đã uống rượu lại uống thêm thuốc sẽ bị ngộ độc: tim đập mạnh, mặt bừng đỏ, ói mửa, đổ mồ hôi, hạ huyết áp, chóng mặt, nhức đầu dữ dội… Chính tác dụng gây vật vã khó chịu như thể sắp lìa trần đến nơi khiến người uống thấy ghê sợ không muốn uống rượu nữa.

Có thể tử vong!

Như vậy, nếu các bà tự ý mua thuốc Espéral về lén cho ông xã uống, các ông do không biết nên vẫn uống rượu thì việc làm ấy hết sức nguy hiểm, không khác nào đầu độc chồng, nếu không được đưa đi cấp cứu kịp thời ở bệnh viện, có thể tử vong! Tốt nhất, nên thuyết phục các ông đến bác sĩ để được tư vấn chữa nghiện rượu.

Phương pháp dùng thuốc chữa nghiện rượu có thể gọi là lấy độc trị độc, và chỉ bác sĩ mới là người biết cách “lấy độc” bao nhiêu vừa đủ để “trị độc”. Ở nước ngoài, nghiện rượu thường được chữa trong bệnh viện, khi dùng thuốc disulfiram phải được bác sĩ theo dõi chặt chẽ vì dùng không đúng có thể gây tai biến. Để trị được chứng nghiện rượu, phải dùng thuốc lâu dài và đòi hỏi người nghiện có quyết tâm từ bỏ rượu.

Gần đây, các nước còn nghiên cứu dùng một số loại thuốc chữa nghiện rượu như: naltrexone (thuốc đã được dùng chữa ngộ độc ma tuý), tiapride (thuốc an thần kinh dùng trong chuyên khoa tâm thần) hoặc thuốc mới nhất là campral. Các thuốc sau có tác dụng làm giảm sự thèm rượu, nhưng vẫn đòi hỏi quyết tâm bỏ rượu của người nghiện.

Tất cả các thuốc vừa kể đều gây tác dụng phụ ảnh hưởng đến hệ thần kinh chứ không thuốc nào hoàn toàn vô hại. Vì vậy, không nên uống các loại thuốc này mà không có chỉ định của bác sĩ, càng không nên lén cho người nghiện rượu sử dụng.

19 thg 8, 2011

Thận trọng với loài amip ăn não người

 Có một loài amip tồn tại trong các hồ nước, thâm nhập cơ thể con người qua đường mũi, vào não bộ và tồn tại ở đó để ăn các tế bào thần kinh cho đến khi người bệnh tử vong.
Các chuyên gia đã tìm được thuốc ngăn chặn amip nguy hiểm
Giáo sư Michael Beach - một chuyên gia của Trung tâm Kiểm soát và phòng bệnh Hoa Kỳ (CDC) về các chứng bệnh bắt nguồn từ nước cho biết, từ đầu năm đến nay ở Mỹ đã phát hiện 6 trường hợp trẻ em và một người lớn chết do amip nói trên gây ra.
Trong đó, 3 trường hợp xảy ra tại bang Florida, 2 tại bang Texas, và một tại bang Arizona.
Các nhà khoa học gọi loài amip này là Naegleria Fowleri. Chỉ trong thời gian từ 1995-2004 tại Mỹ đã có ít nhất 23 người bị tử vong do amip Naegleria Fowleri gây ra.
Trường hợp ở bang Arizona là anh thanh niên Aaron bị nhiễm amip Naegleria Fowleri từ năm 14 tuổi nhưng đến ngày 17/9 vừa qua khi anh 17 tuổi thì qua đời.
Ông David Evans - cha của bệnh nhân này cho biết, chẳng ai phát hiện được con trai ông bị mắc bệnh gì, chỉ thấy Aaron thỉnh thoảng kêu nhức đầu.
Sau khi tiến hành nhiều xét nghiệm khác nhau, các bác sĩ đi đến kết luận bệnh nhân Aaron bị nhiễm amip Naegleria Fowleri khi bơi lội tại hồ nước nông nhân tạo Havasu gần sông Colorado đoạn từ bang Arizona đến California.
Amip Naegleria Fowleri được phát hiện lần đầu tiên tại Úc trong thập kỷ 1960.  Cho đến nay trên thế giới mới phát hiện được khoảng vài trăm trường hợp bệnh nhân bị nhiễm loài amip ăn não người này.
Giáo sư Michael Beach cho biết, Naegleria Fowleri là loại amip ưa nhiệt, khi nhiệt độ tại các hồ nước ấm dần lên chúng hoạt động mạnh hơn.
Người bệnh có thể bị nhiễm amip Naegleria Fowleri khi tắm hồ, suối nước nóng, thậm chí tại các bể bơi không được làm vệ sinh tốt, đặc biệt là khi dùng chân khuấy đảo các chất dưới đáy hồ, bể bơi lên.
Nếu chẳng may để nước xộc lên mũi sẽ là cơ hội để amip Naegleria Fowleri thâm nhập vào cơ thể con người. Sau khi đã bám được vào màng nhầy của mũi, amip Naegleria Fowleri tìm cách tiêu diệt các tế bào tại đó rồi tiếp tục thâm nhập lên não.
Tại não người, loài amip Naegleria Fowleri hầu như không di chuyển tiếp mà tồn tại ở đó và chủ yếu sống bằng nguồn dinh dưỡng nhờ ăn các tế bào não.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân nhiễm amip Naegleria Fowleri thường là sốt nhẹ, đau đầu, cứng cổ.
Vào thời kỳ cuối, tức là khi não người bệnh đã bị amip Naegleria Fowleri phá huỷ nghiêm trọng, bệnh nhân có triệu chứng tâm thần, thay đổi hành vi, ảo giác rồi tử vong.
Hiện nay tại phòng thí nghiệm các chuyên gia tìm được loại thuốc có thể ngăn chặn amip Naegleria Fowleri nhưng chưa điều trị thành công được trường hợp nào với các bệnh nhân amip Naegleria Fowleri.
Giáo sư Michael Beach khuyên mọi người không nên hoảng hốt vì amip ăn não người hiện mới chỉ phát hiện được ở số ít người thường tắm hồ nước nông. Cách phòng bệnh tốt nhất là chỉ nên bơi, lặn ở nơi nước sạch và sử dụng đồ kẹp mũi.

Thêm ba người chết do amip ăn não
 Các quan chức y tế Mỹ cho biết, một loài động vật nguyên sinh là trùng biến hình (amip) sống trong ao hồ nước ngọt giết chết 1 người lớn và 2 trẻ em trong 3 tháng qua. Loài amip này còn được phát hiện trong nước sinh hoạt.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.
Đầu tháng, một bé gái 16 tuổi ở bang Florida sau khi đi bơi về liền ngã bệnh do nhiễm amip ăn não người rồi tử vong. Một bé trai 9 tuổi ở bang Virginia cũng ngã bệnh và chết một tuần sau khi dự trại câu cá. Những trường hợp nói trên được các chuyên gia y tế cho là có biểu hiện lâm sàng tương tự những ca bệnh trước đó, thường là bệnh nhi nam phơi nhiễm loài amip ăn não người do đi bơi hoặc chơi thể thao dưới nước tại ao hồ nước ngọt và ấm.
Hồi tháng 6, một nam thanh niên khoảng 20 tuổi ở bang Louisiana chết vì amip ăn não người, nhưng bệnh nhân này không đi bơi hoặc lội nước ao hồ. Loài amip này được tìm thấy trong hệ thống nước sinh hoạt tại nhà ở của bệnh nhân.
Xét nghiệm mẫu nước lấy từ dụng cụ giống ấm trà mà bệnh nhân tự chế để rửa mũi và họng cho kết quả dương tính với amip ăn não người. Bệnh nhân này có thói quen pha muối vào nước lấy từ vòi của hệ thống nước sạch thành phố rồi súc rửa mũi, họng. Mở rộng điều tra nguồn nước, các chuyên gia y tế kết luận, chỉ riêng hệ thống nước trong gia đình nạn nhân bị nhiễm amip, hệ thống nước thành phố không liên quan.
Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh Mỹ cho biết, loài amip ăn não người được phát hiện từ đầu những năm 1960. Đến nay, tại Mỹ phát hiện 120 ca nhiễm loài amip này và chỉ có 1 bệnh nhân sống sót. Trung bình mỗi năm ở Mỹ có 3 ca tử vong do nhiễm amip ăn não người.
Năm ngoái phát hiện 4 trường hợp. Amip ăn não người thường thâm nhập cơ thể người qua đường mũi, khu trú tại vỏ não và phá hủy các tế bào não. Các chuyên gia y tế vẫn chưa tìm được câu trả lời vì sao nhiều người tắm, bơi, lội trong cùng một ao hồ nhiễm amip ăn não người nhưng chỉ có một số ít mắc bệnh.

15 thg 8, 2011

thực phẩm chức năngtrung quốc làm từ hài nhi


Trung Quốc đã mở cuộc điều tra sau khi Đài Truyền hình Hàn Quốc SBS phát phóng sự về một loại thực phẩm chức năng TQ được chế biến từ thi thể hài nhi, nhau thai và bào thai. Xét nghiệm cho thấy loại sản phẩm này có chứa đến 99,7% ADN của con người.
  
Tóc và mẩu móng tay tìm thấy trong bột thuốc

 
 Người phát ngôn Bộ Y tế TQ Deng Haihua cho biết đã chỉ thị cho các cơ quan y tế tỉnh Cát Lâm điều tra về loại thực phẩm chức năng được sản xuất từ thi thể hài nhi. Theo ông Deng, TQ quy định mọi tổ chức và nhân viên ngành y tế bị cấm kinh doanh xác chết. “Mọi hành vi sử dụng phần được coi là chất thải y tế đều bị nghiêm cấm”, người phát ngôn này cho hay.

Trước đó, đoàn phóng viên điều tra của SBS đã tới TQ và tìm được bệnh viện bán thi thể hài nhi và ghi lại hình ảnh quá trình sản xuất.

Theo phóng sự này, bệnh viện trên bảo quản thi thể của hài nhi trong tủ lạnh, sau đó đưa vào lò vi sóng sấy khô rồi đem nghiền nhỏ. Đây là cách thức kinh hoàng đã được bệnh viện trên sử dụng để chế biến nguyên liệu cho các viên nang được quảng cáo là bổ dưỡng và tăng cường sinh lực (ảnh).

Các nhà báo sau đó đã đưa những viên nang này đến xét nghiệm tại văn phòng Hải quan Quốc gia và viện nghiên cứu khoa học ở Hàn Quốc. Kết quả cho thấy, chúng có ADN trùng khớp đến 99,7% với cơ thể con người. Các nhà khoa học thậm chí còn trích ra được các mẫu móng tay, tóc trong viên nang và xác định được giới tính của đứa bé. Phóng sự trích dẫn những người trong cuộc nói loại viên nang này chủ yếu được chuyển sang Hàn Quốc qua những người Hàn sống ở TQ tại Cát Lâm, Liêu Ninh và Hắc Long Giang.

Bản dịch về nội dung phóng sự tiếng Hàn cho biết, những thi thể hài nhi, bào thai và nhau thai thường được các nhân viên tại các bệnh viện thu lại và bán cho bên công ty chế biến với giá cao. Theo phóng sự này, nhân viên y tế và y tá tại bệnh viện lớn nhất TQ (nhưng không nêu tên đích danh) có tham gia vào đường dây buôn bán thi hài trẻ nhỏ. Các nhân viên bệnh viện sẽ liên lạc với bên công ty chế thuốc mỗi khi có thi thể hài nhi, hoặc có bào thai hoặc nhau thai để bán - phóng sự cho biết.

Ở TQ, nhau thai được cho là tạo ra tinh trùng và cải thiện việc thiếu máu. Song Bộ Y tế TQ quy định rõ nhau thai thuộc về sản phụ và các cơ sở y tế chỉ xử lý nhau thai nếu người mẹ bỏ hoặc muốn tặng lại. Không ai được phép mua bán nhau thai - theo quy định của Bộ Y tế.

12 thg 8, 2011

Bác sĩ giải mã những giấc ngủ bị 'bóng đè'


Vừa chợp mắt, chị Hân lại có cảm giác như bị quả bóng đè lên ngực rồi khó thở. Quá lo lắng bởi tình trạng kéo dài khiến nhiều đêm mất ngủ, cô nhân viên văn phòng phải tìm đến các chuyên gia.
Tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (TP HCM), sau khi được kiểm tra bằng máy đa ký giấc ngủ, nữ bệnh nhân 28 tuổi được các bác sĩ xác định nhiều lần ngưng thở trong đêm. Hiện tượng "bị ma đè" của chị Hân chính là một trong những biểu hiện của chứng rối loạn giấc ngủ.
Theo lời kể của chị Hân, từ một tháng trở lại đây, không đêm nào chị ngủ trọn đêm, bởi cứ chợp mắt hoặc ngủ đến nửa đêm thì lại có cảm giác như bị một vật vô hình đè lên ngực.
"Tôi không thể thở được, cảm giác như bị chết ngạt. Tôi ú ớ, thậm chí có lúc đã mở mắt ra được nhưng vẫn không thể nào trở mình ngồi dậy để thoát khỏi tình trạng như có cái bóng vô hình giữ chặt. Thức dậy, toàn thân tôi toát mồ hôi", chị Hân nói.
Qua kiểm tra giấc ngủ bằng máy, các bác sĩ xác định, lúc vừa vào giấc ngủ, chị Hân thi thoảng loạn nhịp tim và lưu lượng khí bất bình thường. Bệnh nhân có nhiều thời điểm ngưng thở.
Một trường hợp khác, anh Tiến Luân, 34 tuổi, ngụ tại Tân Bình, TP HCM cũng tìm đến bệnh viện khám vì không thể có giấc ngủ ngon. Bệnh nhân cho hay, từ khi anh dọn về căn nhà mới mua lại của một người khác, cứ vào đầu hoặc cuối giấc ngủ là anh đều bị "cứng người".
"Cứ ngủ đến nửa đêm là tôi không sao nhúc nhích được, cứ cố vùng vẫy thì lại càng bị 'giữ chặt'. Thấy tôi ú ớ, bà xã nằm cạnh lay mãi tôi mới tỉnh. Nếu không kiểm tra giấc ngủ của mình, tôi đã không biết mình bị mệt mỏi khiến khó thở lúc ngủ mà cứ nghĩ căn nhà bị ma ám", anh Luân kể.
Không có cảm giác "bị đè" như anh Luân, chị Hân, nhiều người tìm đến bác sĩ tâm lý lại cho hay, họ thường xuyên mơ thấy mình bị rơi từ trên cao xuống vực, hoặc thấy bị ai đó bóp cổ, bị chó đuổi, rắn tấn công...
"Nghe lời mọi người bày, mỗi đêm trước khi đi ngủ, tôi phải lấy chùm chìa khóa, con dao, cây thánh giá hoặc tượng Phật đặt trên đầu nằm. Tuy nhiên không phải bao giờ cũng có kết quả", chị Huyền nhà ở quận 11 nói.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Bích Huyên - chuyên gia nghiên cứu về giấc ngủ thuộc Trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại TP HCM, khẳng định, hội chứng ngưng thở hoặc bất ổn nhịp tim trong khi ngủ chính nguyên nhân khiến người bệnh có cảm giác mình bị "đè".
"Người bị hội chứng ngưng thở lúc ngủ thường phải thức dậy nhiều lần trong đêm để cố gắng thở lại nhưng đến sáng thức dậy lại không nhớ gì về những việc xảy ra. Người ngủ cùng thường là người chứng kiến những lần ngộp thở trong đêm này", bác sĩ Huyên nói.

Hội chứng này làm cho bệnh nhân ngưng thở thường xuyên trong khi ngủ, gây xáo trộn cân bằng giữa oxy và CO2 trong máu. Não cảm nhận được sự giảm oxy và sự tăng CO2 này nên cho tín hiệu xuống để kích thích bệnh nhân thở lại và bệnh nhân thức giấc, đường thở mở ra lại để CO2 thoát ra ngoài và cho oxy vào. Các đợt thức giấc rất cần thiết để bệnh nhân thở trở lại và cứu sống bệnh nhân nhưng lại làm giấc ngủ bị gián đoạn nhiều lần.

Nguyên nhân dẫn đến chứng ngưng thở lúc ngủ thường do vòng cổ lớn (béo phì); lưỡi to, cằm lẹm, hàm dưới nhỏ, vẹo vách ngăn mũi, polyps, amidan to...

Giáo sư - Tiến sĩ Võ Văn Tới, trưởng khoa Kỹ thuật - Y sinh, trường ĐH Quốc tế TP HCM thì cho rằng, hiện tượng bị "cứng người", bị "đè", hoặc bị "ma đè" ngoài nguyên nhân hệ tim mạch, hệ hô hấp, thần kinh không tốt, bệnh nhân còn có thể đã hoạt động gắng sức trong ngày, bị stress, hoặc tư thế nằm không phù hợp.

Riêng trường hợp bị khó ngủ, bị "bóng đè" khi dọn đến nơi ở mới, theo tiến sĩ Tới có thể cơ thể dị ứng hoặc bị ngạt bởi do mùi sơn, mùi đồ đạc, hoặc mùi nấm mốc.

"Việc khắc phục bằng cách đặt dao kéo trên đầu nằm chỉ trấn an về mặt tâm lý. Điều quan trọng nhất là phải tìm nguyên nhân bằng cách đến bác sĩ khám hoặc trước mắt là nên đổi tư thế nằm. Các nghiên cứu về giấc ngủ cho thấy, nằm nghiêng là tư thế giúp con người có giấc ngủ ngon nhất", ông Tới nói

10 thg 8, 2011

Đọc ngay nếu con bạn bị chàm

Bác sĩ bế cháu bé từ phòng hộ sinh bước ra, cả nhà đang vui bỗng tắt lịm nụ cười. Khuôn mặt nhỏ, tròn của bé phủ một lớp da đỏ loang lổ lẫn lộn…khó tả.
Cả nhà hồi hộp chờ đợi giây phút cháu gái ra đời. Khi trong phòng hộ sinh có tiếng khóc oe…oe…oe, cả nhà mừng rỡ, lắm tay nhau. Mẹ tròn con vuông rồi. Bác sĩ bế cháu bé từ phòng hộ sinh bước ra, cả nhà đang vui bỗng tắt lịm nụ cười. Khuôn mặt nhỏ, tròn phủ một lớp da đỏ loang lổ lẫn lộn…khó tả. Bà ngoại tự nhủ chắc tại trời tối, với lại do nước ối bám vào nên khuôn mặt mới vậy. Một vài ngày sẽ khác, trẻ sơ sinh thay đổi theo từng ngày mà.
 
Sáng hôm sau, bác sĩ bước vào phòng kiểm tra và chẩn đoán không phải do nước ối mà do bé bị chàm. Những vết chàm loang lổ trên vùng chán, dưới má của bé cũng có. Mẹ bé cởi quần áo của bé ra thấy chỗ nào cũng chàm, loang lổ những chàm đỏ, cả chàm đen ở vùng gáy, chân, tay, chỗ nào cũng thấy. Thôi thì ở chân cũng không sao, nhưng trên mặt thì hơi ái ngại.
 
Dì bế con vào lòng mà thương vô hạn. Con là con gái mà, chàm như vậy thì… Rồi mọi người bảo thời buổi khoa học hiện đại bố mẹ cứ tiết kiệm để dành tiền sau này thẩm mỹ sẽ hết thôi mà. Chị y tá bảo xưa con chị sinh ra cũng bị chàm nhưng bà nội chữa mẹo theo cách dân gian khỏi luôn. Bà ngoại bé kiên nhẫn làm thử coi. Phải làm lúc ở cữ ấy. Bà ra ngoài chợ, mua tôm rồi về bóc nõn đem tẩm với nước dừa. Cứ sáng sớm và tối muộn lăn vào vùng chàm cho bé, vết chàm sẽ mờ… lâu dần sẽ hết. Làn da bé non nớt là vậy, lăn tôm với nước dừa có sợ da bé dị ứng rồi nhiễm trùng không? Thôi thì cứ thử xem thế nào, dù sao chị ấy cũng là y tá mà con chị ấy cũng bị và thử rồi mà.
 
Vậy là sáng sáng bà ngoại ra chợ mua tôm (lúc đầu bà chỉ hỏi giá nhưng không mua, chị bán tôm thấy bà nhón một con như hiểu ra điều gì và vờ cho bà lấy). Hôm sau, bà ra mua chị nhanh nhảu, bà cứ lấy đi không phải ngại… Rồi hàng xóm, ai đi chợ về cũng ghé qua mang cho mẹ bé một con tôm, cũng chỉ mong bài dân gian đó sẽ hiệu nghiệm. Mẹ bé kiên trì, cẩn thận lăn tôm trên vầng trán và hai bên má của bé. Lăn đến khi con tôm chuyển từ màu trắng đục sang màu đỏ; má, trán của bé căng lại vì tôm với nước dừa. Nghĩ sao ai mà ác độc vậy, đổ khắp người con bé. Nếu bạn nhìn bé sẽ không giấu nổi niềm thương, những chấm chàm đen, nâu lốm đốm, rồi mỗi lần nhìn bé vặn mình, khuôn mặt lại dâng lên vết chàm đỏ. Tôi lang thang trên mạng cầu cứu mọi người xem ai có bí quyết gì giúp bé, cháu gái tôi bị chàm…
Nhưng với lòng kiên trì, tình yêu thương của mẹ và lòng tốt bụng, sự giúp đỡ của mọi người xung quanh, vết chàm của bé dần dần bay theo thời gian. Hết bốn tháng cữ, trên khuôn mặt của bé ở vầng trán và má bé đã không còn nốt chàm đỏ nữa. Mà kỳ lại lắm làn da của bé trắng hồng lên. Khuôn mặt rạng ngời, đôi mắt sáng long lanh lúc nào cũng toe toét nụ cười. Nhưng tôi vẫn buồn vì mỗi lần tắm cho bé vết chàm đen, nâu trên người bé thì không hết vì nó quá nhiều. Thôi thì cũng tự an ủi mình vì khuôn mặt của bé giờ không còn nốt chàm đỏ nữa.
Chuyện tôi kể với các bạn hoàn toàn là sự thật. Đó là cháu gái của tôi và tôi cũng cảm ơn những bài thuốc dân gian mà các cụ xưa truyền miệng đến tận ngày nay để cháu gái tôi không còn bị chàm nữa. Nếu ai có con bị chàm đỏ hãy kiên trì lăn tôm bóc nõn với nước dừa thật sự sẽ khỏi.
Sẽ có ai đó khi đọc xong sẽ hỏi sao mẹ bé không lăn tôm với nước dừa lên những vết chàm khác. Gia đình tôi cũng kiên trì tắm lá canh giới cho bé theo lời mách của một vài người, để đỡ ngứa, rôm xảy và chữa chàm nhưng thật tình mà nói cháu gái tôi có quá nhiều chàm nên không thể lăn tôm được, nhưng bù lại bé có một làn da trắng mịn màng, nụ cười rạng ngời và đôi mắt sáng. Hy vọng bé sẽ có một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc về sau.

3 thg 8, 2011

Xử lý nhanh khi bị bỏng


Trong cuộc sống hàng ngày, chỉ cần một sơ suất nhỏ hay một phút bất cẩn cũng có thể gây ra bỏng. Có nhiều cấp độ gây bỏng. Tùy từng mức độ nặng nhẹ. Để có cách xử trí kịp thời, tránh làm thương tổn nặng cho người bệnh. Các cấp độ bỏng bao gồm :
Theo TS. Nguyễn Như Lâm - Viện Bỏng Quốc gia thì có nhiều cấp độ bỏng khác nhau nhưng dù ở mức độ nào cũng nên ngâm ngay vết thương vào nước lạnh sạch vì nước lạnh có tác dụng làm mát vết thương và làm loãng các chất độc nếu như bạn bị bỏng vôi, dầu...

Bỏng được chia làm 3 cấp độ


Cấp độ 1: Vùng da đỏ, đau rát giống như bị cháy nắng, một vài hôm sẽ khỏi không để lại vết sẹo.

Cấp độ 2: Cao hơn, xuất hiện những nốt phỏng như bong bóng nước, bên trong mọng nước, ở cấp độ này lại chia làm 2 mức:

- Mức 1: Là bỏng với diện tích nhỏ (một phần da) chỉ là những bong bóng nước nếu điều trị đúng cách sẽ không bị nhiễm trùng và không để lại sẹo, nếu bỏng ở mức này bị ở vùng mặt, háng, mông, nơi da gấp thì tốt nhất nên nhờ sự can thiệp của bác sĩ.

- Mức 2: Cũng có thể coi là bỏng nặng, dễ có biến chứng như: bệnh nhân bị choáng, nhiễm trùng máu và uốn ván, nếu nhiễm trùng kéo dài sẽ dẫn đến suy nhược toàn thân, để lại những biến chứng về hình dạng như: sẹo xấu, sẹo co rút làm biến dạng.

Cấp độ 3: Nguy hiểm hơn, vết bỏng ngấm sâu vào trong, qua lớp da lan đến lớp cơ, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, do đó, nhất thiết phải đưa đến bác sĩ chuyên khoa để cấp cứu kịp thời.

Phương pháp sơ cứu khẩn cấp


Cũng theo bác sĩ Lâm, khi bị bỏng phải sơ cứu nhanh và khẩn trương tránh để lại những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Việc sơ cứu này cũng không được làm bừa, mà cần phải có kiến thức cơ bản, nếu không sẽ vô tình dẫn đến những tổn thương khác. Ngay sau đó, cần đưa bệnh nhân đi cấp cứu ngay.

Những trường hợp bỏng nhẹ có thể sơ cứu tại nhà, theo kinh nghiệm dân gian thường bôi nước mắm, xát muối, kem đánh răng, trườm đá... Nhưng, trên thực tế đây lại là phương pháp hoàn toàn phản khoa học vì làm bệnh nhân đau đớn hơn.

Khi bị bỏng, bạn nên lập tức ngâm ngay vào nước lạnh sạch, nếu để lâu sẽ không còn tác dụng vì nước lạnh là giải pháp tối ưu cho tất cả các trường hợp bị bỏng nặng hay nhẹ. Nó làm sạch, mát những hóa chất dính trên vết bỏng, giảm đau, giảm nguy cơ gây sốc cho bệnh nhân.

Những trường hợp bỏng nặng như hóa chất, vôi... thì ngay lập tức cởi bỏ quần áo, đồ trang sức dính những chất này, dùng bàn chải hay chổi lông chà nhẹ cho hết sau đó xả nước lạnh, rồi bọc vùng bị bỏng bằng vải khô nhưng tránh không buộc chặt. Nếu bị bỏng ở mắt do bắn hóa chất thì phải rửa mắt ngay, ngâm mắt trong nước khoảng 20 phút cho sạch hóa chất, sau đó dùng vải mỏng băng mắt lại và đưa đi cấp cứu.

Bỏng điện cũng vô cùng nguy hiểm, khi phát hiện phải dùng vật cách điện (bao tay, que, gậy khô) ngắt điện ngay, bị bỏng điện nhìn bên ngoài có thể là rất nhẹ nhưng nguy cơ thương tổn lại rất cao có thể ăn sâu bên trong lớp biểu bì và ảnh hưởng đến nhịp tim, gây nguy hiểm đến tính mạng.

Nhất là đối với trẻ nhỏ, các bậc cha mẹ phải thận trọng hơn với những vật dụng trong nhà  như phích nước nóng, ổ điện, bếp... do còn nhỏ trẻ chưa hiểu rõ được mối nguy hiểm.

Mức độ tổn thương của bỏng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào việc xử lý ban đầu, nếu xử lý sớm và đúng cách sẽ tránh được những hậu quả đáng tiếc xảy ra cho người bệnh.

Những đứa trẻ "chết" oan vì bố mẹ chữa bệnh theo cách dân gian

Khi thấy con bị bỏng nước sôi, người cha hoảng loạn chạy từ bên ngoài vào ôm lấy con và ngâm con trong vại cà muối khiến cháu bé tử vong vì sốc bỏng.

Con tử vong vì bố ngâm trong vại cà muối

Theo PGS – TS Nguyễn Ngọc Tuấn trưởng khoa Bỏng trẻ em, Viện Bỏng Quốc gia hàng năm viện điều trị từ 1.300 đến 1.500 trường hợp bỏng trẻ em trong đó đa số những trẻ nhập viện đều do sơ cứu không đúng cách.

Lật lại những trường hợp bệnh nhân bị bỏng để lại di chứng đau thương từ những năm 2000 PGS Tuấn chỉ than thở “thương tâm lắm, ca nào cũng vậy”.

Trường hợp mà bác sĩ Tuấn ám ảnh nhất có lẽ là một bệnh nhân từ Nghệ An. Bé Nguyễn Văn D. (27 tháng tuổi) Diễn Châu, Nghệ An bị bỏng do nghịch nước sôi. Phích nước từ phía trên rót thẳng vào người em khiến em bị bỏng từ trên xuống.

Quá hoảng loạn khi nhìn thấy con bị bỏng, bố em chạy từ bên ngoài vào trong nhà ôm lấy con. Nghe hàng xóm truyền lại kinh nghiệm từ trước nên anh đã ngâm con vào vại cà đang muối ở dưới bếp để chữa bỏng.
Một cháu bé đang điều trị bỏng trong BV
Ngâm con trong đó được quá nửa giờ, mặc cho đứa trẻ khóc lóc, sau đó, anh mới đưa con lên bệnh viện. Vừa lên đến bệnh viện tỉnh, các bác sĩ đã giới thiệu ra viện Bỏng Quốc gia. Tại đây, em D. đã không qua khỏi khi vừa nhập viện vì sốc bỏng nặng.

PGS Tuấn còn liệt kê ra nhiều cách sơ cứu bỏng sai cách như chữa bằng nước mắm, chữa bằng mực, đắp thuốc nam.

Trường hợp của em Nguyễn Văn H. (2 tuổi) Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) bị bỏng nước sôi, bà nội em được hàng xóm mách bôi mực lên vết bỏng để chữa bỏng. Khỏi đâu không thấy em H. còn đứng trước nguy cơ nhiễm độc chì từ mực.
Cháu D bị mù đôi mắt vì chữa bỏng sai cách
Bà nội của em H. cho biết, khi đang bận nấu cám ngô dưới nhà, thấy cháu khóc thét lên bà vội chạy lên nhà thì thấy phích nước sôi trên mặt bàn đổ vào cháu. Bà hô hoán người dân xung quanh vào sơ cứu thì họ lấy mực và bảo bôi mực sẽ khỏi vì thực tế trước đó trong làng nhiều người bị bỏng bôi mực đã khỏi nhưng không hiểu sao cháu bà lại còn bị nặng hơn.

Bố mẹ Tiến sĩ vẫn ngâm con trong nước mắm chữa bỏng

Cháu bé Nguyễn Thị V. (3 tuổi, Hà Nội) sau khi bị bỏng ở tay, bố mẹ cháu đã lấy nước mắm ngâm tay con chữa theo kinh nghiệm dân gian. Sau khi ngâm tay con vào trong nước mắm, bậc phụ huynh này lấy giẻ buộc chặt tay con. Đến ngày hôm sau không thấy vết bỏng đỡ mà cháu V. bị sốt cao.

Khi cháu V. đến bệnh viện, phần các ngón tay của cháu đã bị hoại tử, các bác sĩ đã phải cắt bỏ ba ngón tay cho cháu để giữ lại tính mạng. Điều khiến các bác sĩ ở đây cảm thấy đau buồn, tiếc cho cháu nhất chính là bố mẹ cháu V. là những người có học, họ đều có bằng thạc sĩ, tiến sĩ nhưng lại không có kiến thức chăm sóc con khi bị bỏng khiến cháu bé phải nhận di chứng này suốt đời.
Một bàn tay của cháu V phải cắt bỏ vì hoại tử do ngâm nước mắm
Không chỉ ngâm con trong nước mắm, PGS Tuấn còn đưa ra một vài trường hợp bị hoại tử tay, chân vì đắp thuốc. Khi con bị bỏng bố mẹ không đưa cháu đến bệnh viện mà lại đưa con mình đi đắp thuốc theo kiểu dân gian khỏi đâu chẳng thấy chỉ để lại di chứng cho trẻ.

Trường hợp của cháu Hồ Văn B. Nghệ An, khi cháu bị bỏng bố mẹ cháu đã giữ con ở nhà đi đắp thuốc, qua một tháng đắp thuốc không khỏi cháu còn bị suy dinh dưỡng nặng và bị mù một đôi mắt vì chữa bỏng không đúng cách. Cháu bé bị bỏng nước sôi ở vùng bụng và vùng chân di chứng đã cướp đi đôi mắt của cháu.

PGS – Bác sĩ Tuấn cho rằng đa số bố mẹ đều sơ cứu bỏng cho con sai cách để đến khi nhập viện các cháu đã chuyển sang di chứng. Các bác sĩ trong bệnh viện không chỉ phẫu thuật thay cấy da cho các cháu, nhiều cháu bé còn phải bỏ hết chân tay vì vết hoại tử quá nặng.

PGS Nguyễn Ngọc Tuấn khuyến cáo khi con bị bỏng cha mẹ nên bình tĩnh, tách con ra khỏi tác nhân gây bỏng kể cả bỏng nước, bỏng điện. Sau đó ngâm nước sạch vùng bỏng, chú ý giữ nhiệt cơ thể cho các cháu rồi đưa con đến cơ sở y tế gần nhất. Không tắt ngang, tắt dọc chữa bằng kinh nghiệm.

Giải mã bí mật "người voi"

Giới khoa học đã giải được câu đố về nguyên nhân gây nên sự biến dạng cơ thể khủng khiếp của những người bị hội chứng Proteus, còn gọi là “người voi”.
Sau một thế kỷ từ khi “người voi” Joseph Merrick​ (Anh) đầu tiên trên thế giới qua đời, các chuyên gia Mỹ đã xác định được tình trạng đột biến gien gây ra hội chứng Proteus - một sự rối loạn hiếm hoi trong bộ gien khiến các mô và xương phát triển quá mức làm cho cơ thể biến dạng khủng khiếp. Hiện có khoảng 500 người trên thế giới đang chịu đựng tình trạng này, vốn xảy ra một cách tự phát trong giai đoạn bào thai. Người bị hội chứng trên phải mang vẻ bề ngoài méo mó, với đặc trưng là đầu và chân tay to méo, lồi lõm, thân hình dị dạng.
Giải mã bí mật "người voi", Phi thường - kỳ quặc, chuyen la,chuyen la co that,chuyen la the gioi,nguoi voi,bi mat,tin tuc
Một bệnh nhân người voi ở Trung Quốc - Ảnh: Connect
Do đó, công trình nghiên cứu trên của các nhà khoa học của Viện Y học quốc gia (NIH) tại Washington mang ý nghĩa vô cùng to lớn, có thể giúp mở ra phương pháp điều trị tình trạng này. Đồng thời, kết quả thu được cũng có thể hỗ trợ trong việc chữa trị ung thư, căn bệnh xảy ra do sự phát triển quá mức của các tế bào tại những phần khác nhau trong cơ thể. Bước kế tiếp là kiểm tra ADN trên bộ xương của Joseph Merrick, “người voi” cực kỳ nổi tiếng vào thế kỷ 19 ở phương Tây. Khác với những người voi hiện nay, Merrick kiếm sống được nhờ phô diễn hình dạng khủng khiếp của mình tại Anh và châu Âu. Câu chuyện về cuộc đời của ông đã thu hút sự quan tâm của cả thế giới thông qua các vở nhạc kịch và bộ phim được chuyển thể cùng tên vào năm 1980. Theo đó, tình trạng bất thường của Merrick xuất hiện từ thời thơ ấu, dưới dạng các mảng da dày đầy bướu, miệng rộng bất thường và trán gồ ghề xương. Một cánh tay và cả hai chân phồng lên, và cho đến khi trưởng thành ông phải ngủ ngồi vì cái đầu quá lớn và quá nặng.
“Người voi” Merrick trở thành bạn của Frederick Treves, nhà phẫu thuật ở Bệnh viện London, nơi ông sống những năm cuối đời và chết tại đó vào năm 1890 ở tuổi 27. Nguyên nhân thiệt mạng được xác định là nghẹt thở, nhưng bác sĩ Frederick cho rằng ông này chết vì trật khớp cổ. Bộ xương của Merrick được lưu giữ ở khoa bệnh lý học của bệnh viện, còn mô được các chuyên gia Mỹ sử dụng trong nỗ lực nghiên cứu căn bệnh kỳ quái này. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn, vì tình trạng đột biến gien gây nên hiệu chứng Proteus không phân bổ đồng đều trong cơ thể. Nếu chỉ lấy mẫu nhỏ, các nhà khoa học có thể không tìm thấy được tế bào mang gien đó.
Eric Green, Giám đốc Viện Nghiên cứu gien người quốc gia thuộc NIH, cho hay tình trạng đột biến hiếm hoi như người voi luôn thu hút sự chú ý của vô số người, nhưng cho đến nay vẫn chưa thể giải thích rõ ràng về mặt y khoa. Theo nghiên cứu đăng trên The New England Journal of Medicine, bệnh nhân và thân nhân của họ có thể hy vọng về những liệu pháp chữa trị trong tương lai.

2 thg 8, 2011

Sai lầm nghiêm trọng về cách chữa trị bệnh

Không được ngẩng đầu về phía sau khi bị chảy máu cam. (Ảnh minh họa)
Bạn đừng nên đặt niềm tin tuyệt đối vào những lời đồn đại về cách chăm sóc sức khỏe khi chưa biết nguồn gốc của chúng.
Trước khi áp dụng một lời khuyên hay phương pháp chăm sóc sức khỏe nào, bạn nên tìm hiểu rõ nguồn gốc và xuất xứ của nó. Rất nhiều người vì quá tin vào những lời đồn đại mà gây những tác hại khôn lường cho sức khỏe bản thân.
Dưới đây là những sai lầm khá phổ biến trong việc chữa trị bệnh cũng như chăm sóc sức khỏe con người:
Sai lầm 1: Ngẩng đầu về phía sau khi bị chảy máu cam
Ngẩng đầu về phía sau khi bị chảy máu cam chỉ giữ cho quần áo, bàn ghế hoặc tấm thảm nhà bạn không bị máu làm bẩn. Trên thực tế, lời khuyên này vô cùng có hại cho bạn. Điều này sẽ khiến máu chảy ngược vào cổ họng làm bạn bị sặc và nôn ói.
Trong trường hợp này, bạn nên ngồi thẳng, hơi nghiêng về phía trước và dùng ngón tay giữ lỗ mũi trong vài giây, máu sẽ chảy chậm lại và dần dần chấm dứt.
Sai lầm nghiêm trọng về cách chữa trị bệnh, Sức khỏe, chua tri benh, chua benh, suc khoe, cham soc suc khoe,
Không được ngẩng đầu về phía sau khi bị chảy máu cam. (Ảnh minh họa)
Sai lầm 2: Nhà vệ sinh công cộng có hại cho bạn
Mọi người vẫn truyền tai nhau rằng không nên vào nhà vệ sinh công cộng vì rất mất vệ sinh và có thể truyền bệnh nguy hiểm nhưng trên thực tế, những nhà vệ sinh này liên tục được dọn dẹp và chúng không hề quá mất vệ sinh như bạn nghĩ. Ngược lại nếu bạn chỉ vì sợ bẩn mà nín đi tiểu sẽ gây ra những bệnh tật khôn lường.
Sai lầm 3: Có đờm màu xanh lá cây là bị nhiễm trùng
Theo một cuộc khảo sát được thực hiện mới đây với các bác sĩ, rất nhiều người cho rằng nếu bệnh nhân cho biết họ thấy xuất hiện chất nhầy (đờm) màu xanh lá cây, bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, đờm có thể chuyển sang màu xanh khi hệ thống miễn dịch trong cơ thể chống lại các loại virus cảm lạnh. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp này.
Sai lầm 4: Chườm đá lạnh lên vết thương
Rất nhiều người cho rằng, chườm đá lạnh trực tiếp lên vết thương sẽ có tác dụng giảm đau và làm máu ngừng chảy nhưng trên thực tế đây là phương pháp chữa bệnh hoàn toàn sai lầm. Việc đặt trực tiếp vết thương lên đá lạnh sẽ làm vết thương khó lành hơn.
Khi bị thương, bạn hãy giữ nhẹ chỗ bị thương để cầm máu sau đó dùng nước muối nhẹ khử trùng vết thương, dùng miếng gạc quấn vết thương lại. Lúc này bạn mới có thể chườm đá lạnh để giảm đau.

1 thg 8, 2011

Tai hại khi lạm dụng thuốc tránh thai khẩn cấp

Ngại sử dụng thuốc tránh thai hằng ngày, sợ giảm cảm giác nếu dùng bao cao su nên nhiều người đã bỏ qua những biện pháp hiệu quả để dùng thuốc tránh thai khẩn cấp một cách tùy tiện. Hậu quả là “vỡ kế hoạch” và để lại nhiều bất lợi cho sức khỏe sinh sản.

Cô gái trẻ N.T.M (19 tuổi, sinh viên một trường ĐH ở TPHCM) tìm đến điểm tư vấn sức khỏe sinh sản khi kết quả dương tính từ que thử thai. M. cho biết cô và bạn trai chỉ quan hệ vài lần mỗi tháng nên ngừa thai bằng thuốc tránh thai khẩn cấp, không biết vì sao đã uống đúng liều, uống sớm mà vẫn “dính”. Trên thực tế, M. đã dùng đến 3, 4 lần/tháng trong lúc đáng lẽ chỉ nên dùng 2 lần trong một chu kỳ kinh nguyệt.
Ngại sử dụng thuốc tránh thai hằng ngày, sợ giảm cảm giác nếu dùng bao cao su nên nhiều người đã bỏ qua những biện pháp hiệu quả để dùng thuốc tránh thai khẩn cấp một cách tùy tiện. Hậu quả là “vỡ kế hoạch” và để lại nhiều bất lợi cho sức khỏe sinh sản
Hiểu sai công dụng
Chị T.T.A tìm đến phòng khám thai vì chậm kinh gần một tháng. Chị cũng chọn thuốc tránh thai khẩn cấp làm biện pháp kế hoạch tạm thời và kết quả đúng là không mang thai mà chỉ chậm kinh do bị tác dụng phụ của thuốc. Bác sĩ giải thích do tháng cuối cùng chị đã dùng quá liều với 5 lần sử dụng và khuyên chị chuyển sang sử dụng loại thuốc tránh thai uống hằng ngày.
Bác sĩ Dương Phương Mai, Trưởng Khoa Kế hoạch hóa gia đình của Bệnh viện Từ Dũ, cho biết thuốc tránh thai khẩn cấp giúp phụ nữ tránh mang thai ngoài ý muốn trong trường hợp lỡ quan hệ không an toàn hoặc các biện pháp tránh thai khác thất bại (như rách bao cao su), bị xâm hại tình dục...
Tuy nhiên, nhiều người hiểu sai công dụng, xem đó như một biện pháp an toàn thông thường khi quan hệ không thường xuyên dẫn đến nhiều hậu quả, nhất là làm tăng khả năng mang thai ngoài ý muốn. Thông thường, thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ đạt kết quả tránh thai khoảng 85% - 95%, nếu sử dụng đến lần thứ ba trong cùng một chu kỳ thì hiệu quả có thể chỉ còn 65% và khả năng mang thai có thể lên đến gần 40% nếu sử dụng tùy tiện. Cũng theo bác sĩ Dương Phương Mai, số thai phụ mang thai ngoài ý muốn phải phá bỏ có nguyên nhân từ lạm dụng thuốc tránh thai khẩn cấp là không ít.
Đồng quan điểm này, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thông, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản TPHCM, cảnh báo: “Mỗi loại thuốc được chỉ định để sử dụng trong những trường hợp nhất định. Nếu đồng hóa khái niệm “tránh thai khẩn cấp” với “tránh thai không thường xuyên” thì cho dù có sử dụng thuốc đúng hướng dẫn, người dùng vẫn có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn rất cao”.
Dễ gặp tác dụng phụ
Theo bác sĩ Nguyễn Ngọc Thông, ngoài nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, việc lạm dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp còn dẫn đến những tác dụng phụ khác như rối loạn nội tiết, rối loạn kinh nguyệt, rong huyết, đau bụng, chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu... Những tác dụng phụ này thường được nhà sản xuất ghi rõ trên tờ hướng dẫn sử dụng nhưng nhiều phụ nữ cho biết họ không chú ý.
Các bác sĩ sản khoa cũng nói rõ thêm là không như các loại thuốc tránh thai dùng hằng ngày, thuốc ngừa thai khẩn cấp nếu dùng thường xuyên sẽ lờn thuốc, hiệu quả tránh thai sẽ giảm nhiều dù người dùng có tuân thủ chặt chẽ chỉ định về liều lượng, thời điểm sử dụng và số lần sử dụng. Ngại phiền khi sử dụng thuốc tránh thai hằng ngày, sợ giảm cảm giác nếu dùng bao cao su... nên nhiều người đã bỏ qua những biện pháp an toàn có thể hiệu quả đến 99% để chọn thuốc tránh thai khẩn cấp và dùng một cách tùy tiện. Hậu quả là vỡ “kế hoạch” hoặc để lại nhiều bất lợi cho sức khỏe sinh sản của người phụ nữ. “Chưa nói đến việc thuốc tránh thai khẩn cấp là loại thuốc nội tiết, thuộc nhóm cần cẩn trọng khi sử dụng” – bác sĩ Thông nhấn mạnh.
Sử dụng theo đúng nghĩa khẩn cấp
Bác sĩ Dương Phương Mai khuyên: “Nếu đã biết trước sẽ có quan hệ tình dục, các bạn nên chủ động chuẩn bị các biện pháp ngừa thai thông dụng như thuốc viên ngừa thai loại uống hằng ngày hoặc bao cao su. Chỉ nên sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp trong những trường hợp bất khả kháng, khi không có sự chuẩn bị trước cho cuộc quan hệ hoặc biện pháp ngừa thai thông thường đã thất bại. Nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng của thuốc, uống càng sớm càng tốt sau quan hệ, uống đủ liều và đúng thời gian quy định đối với những loại có 2 viên/lần sử dụng”.

Tôi đã phòng viêm tai cho con như thế!

Hôm nay, khi bố con gọi điện báo vừa đưa con đi khám bác sĩ mẹ mới chợt nhận ra mẹ thật đoảng khi để con bị viêm tai...

Từ ngày được làm mẹ, mẹ chuẩn bị hành trang kiến thức nuôi dạy con qua những trang sách báo, mẹ kiếm tìm những trang web dành riêng cho mẹ và con để được giao lưu trao đổi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, để biết cách chăm sóc con cho thật chu đáo. Cứ tưởng như thế là đủ nhưng đâu phải vậy.
Hôm nay, khi bố con gọi điện báo vừa đưa con đi khám bác sĩ mẹ mới chợt nhận ra mẹ thật đoảng khi để con bị viêm tai...
Mẹ là mẹ của con, là người ôm ấp con, lo cho con bữa ăn, giấc ngủ mà mẹ chẳng hay biết gì. Có phải tại mẹ quá vô tư khi nghĩ rằng con mẹ luôn khỏe mạnh với cân nặng vượt trội so với các bạn đồng trang lứa, mẹ nghĩ rằng cứ đến bữa ăn nhìn con ăn ngoan hết bát bột, trong giấc ngủ con chẳng lè nhè trong đêm, nếu con có bị mũi thì mẹ nhỏ mũi thế là xong nhưng đâu phải thế đúng không?
Tôi đã phòng viêm tai cho con như thế!, Làm mẹ, tre bi viem tai, be bi viem tai, con viem tai, dieu tri viem tai cho tre nho, tre nho viem tai, viem tai, nuoi con khoe, nuoi con
Hôm nay, khi bố con gọi điện báo vừa đưa con đi khám bác sĩ mẹ mới chợt nhận ra mẹ thật đoảng khi để con bị viêm tai...(Ảnh minh họa).
Mẹ thật đáng trách, khi nhìn thấy con cho tay lên tai ngoáy ngoáy liên tục y hệt như người lớn, mẹ tưởng đó là phản xạ tự nhiên và cảm thấy thích thú với suy nghĩ con có những cử chỉ da dáng người lớn.
Mẹ luôn nghĩ rằng bà ngoại ngày nào tắm cho con xong cũng vệ sinh tai mũi hết rồi. Bác Hiên ở xóm còn bảo với mẹ rằng thấy con ngoáy tai liên tục nên soi tai con xem thế nào. Bác để con nằm nên đùi và cầm bông vệ sinh tai. Con nằm yên như con cún con để bác ấy làm. Trời ơi, một lớp mủ trắng đục che lấp hết lỗ tai của con. Càng khêu, nó càng đùn ra. Bác ấy không dám ngoáy sâu vào trong nên bố và bác ấy đã đưa con đến gặp bác sĩ. Bác sĩ dặn phải cẩn thận vì nếu bị một lần mà không chữa dứt điểm thì sẽ hậu quả khó lường. Nếu chỉ bị viêm tai thì chữa dễ hơn chứ để đến viêm tai giữa thì nặng rồi có thể nguy hiểm lắm đấy, nhẹ thì bị điếc còn nặng hơn thì nguy hiểm đến tính mạng, viêm màng não dẫn đến ngớ ngẩn…Nghe đến đây thôi mà mẹ đã bủn rủn hết cả tay chân. Nhìn con mẹ đáng yêu thế này mà...
Thật ra con của mẹ mới bị viêm tai thôi nhưng đã được phát hiện kịp thời và chữa dứt điểm, thêm vào đó mẹ đã học được cách chăm sóc bảo vệ tai cho con nên muốn chia sẻ cùng các mẹ một số cách khi con mắc bệnh viêm tai.
Thứ nhất: Để phòng tránh con bị viêm tai các mẹ nhớ vệ sinh tai cho con thường xuyên sau mỗi khi tắm. Trong quá trình gội đầu cho con, các mẹ không nên hạ thấp đầu con quá vì con sẽ khóc nước bọt sẽ chảy vào tai giữa.
Thứ hai: Đối với các con đang trong độ tuổi bú mẹ, các mẹ nhớ không cho con bú nằm vì khi con nôn trớ dễ tràn vào tai giữa. (thật tình điều này rất đúng, 10 tháng cho con bú đêm là 10 tháng mẹ thức dậy cho con bú. Điều này mẹ được bà nội khen lắm)
Thứ ba: Với những bé hay bị viêm mũi, thò lò mũi, viêm amidan…các mẹ nhớ cho con đi khám để điều trị dứt điểm vì đó là nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm tai.
Thứ tư: Nếu các bé có dấu hiệu sốt cao 39-40­­­­­ độ kèm theo quấy khóc, kém ăn, nôn trớ, co giật…các bé lớn hơn biết kêu đau tai, các bé nhỏ thì lấy tay dụi dụi vào tai…Tất cả bé bị sốt không rõ nguyên nhân các mẹ nhớ đưa con đến khám kỹ về tai mũi họng để có thể phát hiện sớm và chữa trị nhé.
Lưu ý: Việc điều trị và chẩn đoán viêm tai giữa ở các bé phải do bác sĩ chuyên khoa tiến hành. Các mẹ nhớ không tự mua thuốc điều trị khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Bệnh viêm tai giữa là một bệnh dễ tái phát, vì vậy, các mẹ nhớ theo dõi con thường xuyên và chữa trị dứt điểm.
Đó là những kinh nghiệm mà mình được bác sĩ tư vấn. Mẹ nào có thêm những kinh nghiệm khác về việc phòng chữa bệnh viêm tai cho các con nhớ thêm vào cho phong phú nhé!